Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười: ‘Ghế tôi đây cực nóng, anh nào muốn ngồi tôi đứng dậy nhường ngay’

‘Ghế tôi đây là ghế nóng 220V, đúng, cực nóng, anh nào muốn ngồi vào tôi đứng dậy nhường ngay’, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười nói trong giai đoạn ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười: ‘Ghế tôi đây là ghế nóng 220V, cực nóng’

Như VietnamFinance đã thông tin, sau thời gian dài lâm bệnh, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã từ trần vào tối 1/10, hưởng thọ 101 tuổi.

Bài viết “Chiếc ghế nóng” do tác giả Diệu Ân ghi trong cuốn sách “Đồng chí Đỗ Mười – Dấu ấn qua những chặng đường lịch sử” của NXB Chính trị quốc gia – Sự thật đã ghi lại lời kể của ông Võ Đại Lược, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Thế giới – người từng tham gia nhóm tư vấn cho Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười về chống lạm phát.

VietnamFinance xin lược trích lời kể của Giáo sư Võ Đại Lược:

“Khi ông Đỗ Mười lên làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1988, tình hình lạm phát rất nguy kịch lên tới 3 con số/năm. Trên bàn của ông lúc đó có hơn 40 đề án chống lạm phát, thậm chí có cả đoàn chuyên gia kinh tế Liên Xô sang giúp đỡ cũng có một đề án.

Năm 1986, khi ông Trường Chinh khởi xướng đổi mới, lạm phát đạt kỷ lục hơn do rất nhiều nguyên nhân của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp…

Năm 1989, tôi là Viện trưởng Viện Kinh tế Thế giới được phân công làm tổ trưởng tổ nghiên cứu chống lạm phát của Ủy ban Khoa học Xã hội. Tuy nhiên, tôi không tán thành quan điểm của bản đề án đó nên viết riêng một đề án khác.

Một lần đầu năm 1989, ông Lê Đức Thúy, thư ký của ông Đỗ Mười thông báo cho tôi là ông Mười muốn nghe đề án chống lạm phát của tôi. Khi tôi đến Văn phòng Chính phủ, ông Mười đã ngồi chờ tôi trong căn phòng nóng nực, trông ông rất bình dị, gẫn gũi trong bộ quần áo bộ đội.

Tôi vinh dự được trình bày với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đề án này, vì đây là vấn đề bức xúc, mức lạm phát đã lên 9% một tháng.

Tôi kiến nghị ba giải pháp. Một là nâng lãi suất thực dương lên 12%. Hai là tự do hóa kinh tế để dân tự do làm ăn buôn bán vì lúc đó vẫn ngăn sông cấm chợ, tất cả do Nhà nước cung cấp. Ba là mở cửa với thế giới bên ngoài.

Sau khi ông Mười nghe tôi trình bày xong thì đồng ý với giải pháp tăng lãi suất và còn e ngại với hai giải pháp sau. Sau đó, ông cho gọi ngay ông Hồ Tế, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Ủy viên Thường trực tiểu ban chống lạm phát của Chính phủ lên làm việc và yêu cầu ông Hồ Tế tổ chức hội nghị thảo luận đề án chống lạm phát của tôi.

Một tuần sau, hội nghị được tổ chức với hơn 100 đại biểu đến tham dự gồm các nhà kinh tế, đại diện từ các bộ ngành khác nhau. Tôi trình bày đề án gồm các điểm thực hiện lãi suất dương, đẩy mạnh tự do hóa thương mại, xóa bao cấp, xóa độc quyền nhà nước và mở cửa cho xuất nhập khẩu,…

Khi tôi trình bày xong, các đại biểu phản ứng ầm ầm. Họ công kích đề án của tôi là không thực tế. Họ ào ào phát biểu không cho tôi giải thích. Tôi ước tính đến 90% đại biểu phản đối, còn một số ít người ủng hộ tôi không dám nói, mà cũng không có cơ hội nói.

Sáng hôm sau, ông Mười cho gọi tôi lên hỏi ngay: “Kết quả cuộc hội thảo thế nào?”

Tôi không e ngại nói: “Báo cáo Chủ tịch, kết quả hội thảo có tới 90% đại biểu phản đối. Không có ai ủng hộ ra mặt”.

Ông Mười khích lệ: “Không sợ, anh nên nhớ ghế tôi đây là ghế nóng 220V, đúng, cực nóng, anh nào muốn ngồi vào tôi đứng dậy nhường ngay. Nghe đề án của anh có nhiều điểm trùng với suy nghĩ của tôi. Tôi sẽ cho thí điểm ở Hải Phòng”.

Tôi được biết, ông Mười đã đích thân về Hải Phòng làm thí điểm. Chỉ một tháng sau, kinh tế Hải Phòng sôi động hẳn lên. Chính phủ cho phép tăng lãi suất tiền gửi của dân lên 12% tháng. Người dân ở Hải Phòng bán hết hàng tích trữ để lấy tiền gửi ngân hàng, hàng hóa tràn ngập trên thị trường, giá cả hạ thấp, đời sống dần ổn định.

Khoảng tháng 2/1989, ông Mười lại bắt đầu thí điểm ở Hà Nội cho dân tự do buôn bán, hàng hóa lương thực, thực phẩm được tự do đưa vào Hà Nội, không bị “ngăn sông, cách chợ”.

Chẳng bao lâu, các chợ ở Hà Nội tràn ngập hàng hóa, Hà Nội dư thừa lương thực ngay lập tức và các cửa hàng mậu dịch không còn cảnh xếp hàng. Sau Tết âm 1989, ông Mười cho triển khai chính sách đó trên toàn quốc. Nhờ đó, hệ thống tem phiếu cũng được bỏ đi.

Đầu năm 1989, ông Mười còn ký văn bản chỉ thị nhập khẩu 200.000 tấn lương thực nhưng đến giữa năm thì lương thực bắt đầu dư thừa, đến cuối năm Việt Nam xuất khẩu được 1 triệu tấn lương thực.

Đó là năm đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam xuất khẩu được 1 triệu tấn lương thực. Cuối năm 1989, dự trữ ngoại tệ vọt lên 200 triệu USD từ 20 triệu USD hồi đầu năm.

Cuối năm ông Mười ngạc nhiên lắm, gọi tôi lên nói: “Tôi hết sức bất ngờ. Tôi không phải in thêm tiền mà lại có thêm dự trữ”.

Tôi đáp: “Đó là do ta thực hiện kinh tế hàng hóa để người dân và doanh nghiệp kinh doanh”.

Cuộc chống lạm phát như vậy là thành công. Mức lạm phát từ 9%/tháng tụt xuống còn 1-2%/tháng, thậm chí có tháng âm. Các tổ chức quốc tế đánh giá thành công của Việt Nam là kỳ diệu.

Sau những thành công đó, ông Đỗ Mười rất tin tưởng ở tôi, tham vấn tôi thêm nhiều vấn đề. Tôi rất kính trọng ông Mười về tinh thần chịu đọc, chịu học và luôn luôn suy nghĩ lựa chọn để áp dụng vào kinh tế Việt Nam.

Có một lần tôi đi Nhật về khoe với ông Mười: “Tôi mới đem về cuốn sách ‘Kinh tế chính trị học Nhật Bản’ tôi sẽ cho dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt”.

Ông Mười nói ngay: “Dịch xong chương nào anh đưa tôi đọc ngay”. “

Lệ Chi

Theo VietnamFinance